Kỹ thuật trồng hành và phương pháp phòng, trừ sâu bệnh trên cây hành vụ đông

(Cập nhật: 11-03-11)

Kỹ thuật trồng hành và phương pháp phòng, trừ sâu bệnh trên cây hành vụ đông

I. Kỹ thuật trồng hành tây.

1. Thời vụ

Vụ sớm gieo từ 10 đến 15/8, trồng đầu tháng 9; chính vụ gieo từ 5 đến 10/9, trồng từ 10 đến 20/10.

2. Vườn ươm

- Đất pha cát hoặc thịt nhẹ, độ pH 5,5  - 6. Phơi ải 7 - 10 ngày. Cày bừa kỹ, làm đất nhỏ, tơi xốp; lên luống rộng 1 - 1,2 m; xử lý đất bằng vôi bột trước khi gieo 7 ngày.

- Bón lót cho 1 sào Bắc bộ (BB): (500 – 800 kg) phân chuồng + 7 kg Supe lân + 2 kg Kali Sunphat.

- Lượng hạt gieo 80g hạt/24m2 (1 sào BB). Sau khi gieo xong rắc lên trên một lớp đất nhỏ, dùng rơm rạ ngắn 4  - 5 cm phủ lên mặt luống.

- Tưới nước thường xuyên ngày 1 - 2 lần cho đến trước khi nhổ 1 tuần thì ngừng để huấn luyện cây con.

Lưu ý: vụ gieo sớm cần có giàn che cho cây con lúc nắng gắt, mưa to.

- Sau gieo khoảng 37 - 40 ngày nhổ đem trồng. Trước khi nhổ 5 - 6 giờ tưới nước đẫm cho dễ nhổ, hạn chế đứt rễ.

Cây giống phải cao 15 – 18 cm, lá thẳng, cứng, xanh, rễ thẳng, có 4 - 5 lá thật.

3. Làm đất trồng

Nên trồng trên đất luân canh với lúa nước để hạn chế sâu bệnh. Chọn loại đất thịt nhẹ, độ pH 5 - 5,6, làm nhỏ, tơi xốp, sạch cỏ dại, lên luống rộng 1 m, cao 25 cm, rãnh rộng 25 cm.

- Nơi trồng nên xa nguồn nước thải, xa đường quốc lộ trên 100 m, xa khu công nghiệp... để đảm bảo rau sạch, an toàn. Đất trồng phải chủ động tưới tiêu.

- Khoảng cách trồng 25 x (13 – 15 cm), mật độ trồng khoảng 6.000-6.500 cây/sào BB.

4. Bón phân

- Tuyệt đối không dùng phân tươi, chỉ sử dụng phân chuồng hoai mục, phân hữu cơ vi sinh, phân rác chế biến.

Phân bón cho 1 sào BB: (800 – 900 kg) phân chuồng + 10 kg phân Urê + 16 kg Supe lân + 10 kg lân Sunphat Kali.

- Cách bón: bón lót toàn bộ phân chuồng + phân lân + 20% Urê + 30% Kali; bón thúc đợt 1 vào thời kỳ hồi xanh, bón 30% phân Urê, đợt 2 sau hồi xanh 15 - 20 ngày bón 30% Urê + 50% Kali, bón đợt 3 sau đợt 2 từ 15 - 20 ngày, bón số phân đạm và kali còn lại, kết hợp vun gốc.

5. Tưới nước

Dùng nước sạch, không dùng nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nước ao tù... Làm cỏ, vun xới, kết hợp với tưới nước, đảm bảo độ ẩm thường xuyên cho cây.

6. Phòng trừ sâu bệnh

Hành tây ít bị sâu hại, bệnh thường gặp là bệnh cháy lá hành, sương mai, thối nhũn... Cần áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp như vệ sinh đồng ruộng, bón cân đối NPK và bón đúng giai đoạn. Đảm bảo chế độ tưới nước hợp lý nhất là những ngày nhiệt độ cao, trời âm u, số giờ nắng ít và mưa kéo dài. Thật cần thiết mới dùng thuốc hoá học. Không dùng các loại thuốc đã cấm sử dụng và phải đảm bảo thời gian cách ly trước thu hoạch.

- Với bệnh sương mai: thường xuất hiện vào giai đoạn nhiệt độ thấp dưới 20 0C, có thể dùng Boócđô 1%,

- Nếu phát hiện bệnh phấn trắng dùng Rovrral 50WP 0,2-0,3%, Ridomil 72WP...

- Bệnh thối củ do vi khuẩn Ervinia sp hoặc do nấm Botrytis gây hại từ lúc củ chắc đến khi thu hoạch và bảo quản. Phòng trừ bệnh bằng cách xử lý hạt giống trước khi gieo và bón phân cân đối, không bón quá nhiều đạm. Khi bệnh xuất hiện dùng Daconil WP 0,2 - 0,3%, Boócđô 1%, thời gian cách ly 2 tuần.

II. Kỹ thuật trồng hành tím

Hành tím thuộc nhóm rau ăn củ, được sử dụng rộng rãi trong chế biến thức ăn trong đời sống hàng ngày. Có hai loại củ: củ tròn to và củ nhỏ dài. Đa số các loại giống có thời gian sinh trưởng từ 60 – 70 ngày. Khi trồng nên chọn củ già ( củ ngừng tăng trưởng) có màu tím sậm. Lượng giống để sản xuất hành thương phẩm cần 60 – 90kg/1.000 m2, trồng để giữ giống 300 – 400 kg/1.000 m2. Thời vụ: trồng giữ giống vào tháng 2 – 3 dương lịch, vụ mùa trồng hành thương phẩm tháng 9 – 10 - 11 dương lịch, thu hoạch tháng 11 – 12- 1 âm lịch.

Hành tím trồng được trên nhiều loại đất, nhưng đất cần cao ráo, tơi xốp nhiều dinh dưỡng, nếu trồng gần nguồn nước mặn phải tưới nước ngọt. Hành rất sợ ngập úng, vì thế người ta cần bố trí vụ trồng vào thời điểm hết mưa để tránh hiện tượng thối củ. Làm đất: cày ải trước 1 tháng, trước khi lên liếp 3 – 5 ngày tiến hành rãi vôi, nếu đất sét cần trộn cát mịn đều trên mặt liếp. Làm liếp: liếp cao 15 – 20cm, mặt liếp rộng 0,7 – 0,9 m, khoảng cách mương giữa 2 liếp 20 – 30cm. Liếp trồng cầm bằng phẳng, tưới nhẹ và phủ một lớp rơm trước khi trồng, xịt thuốc diệt mầm cỏ bằng Ronstar, Dual.

Chọn củ tốt có màu tím sậm, đáy tròn, không mọc rể non, không sâu bệnh. Trước khi trồng lột bỏ vỏ bao chóp củ, nên xử lý thuốc ngừa bệnh thối củ bằng thuốc: Copper zinc, Aliette, Mancozeb hoặc Rampart, Kasuran. Khoảng cách trồng: hàng cách hàng 15 – 20cm x cây cách cây 10 – 15 cm. Mật độ 4.000 – 4.500 bụi/1.000 m2, trồng 1 – 2 củ/hốc, nếu đất sét cắm củ sâu 2/3 lớp mặt, nếu đất cát cắm củ vừa ngập mặt đất. Sau khi trồng xong phủ một lớp rơm mỏng rồi tưới nước.

Cho 1.000 m2 đất trồng. Liều lượng phân: vôi: 50 kg – 60kg, phân hữu cơ (phân chuồng hoai, phân tôm): 100 kg, Humix, Komix 40 – 50kg. Phân vô cơ : Supper Lân 10 – 15kg (lần cải tạo đất 30 kg), Kali 5 kg; NPK (16-16-8+13S) 55 – 70kg, thuốc BVTV; sử dụng thuốc Furadan 2 kg. Cách bón: bón lót toàn bộ vôi + lân + phân hữu cơ (chuồng hoai)+ 15kg NPK + 2kg Furadan. Cách bón: rãi theo hàng hoặc dùng thùng tưới, bón thúc lần 1 (7 – 10 ngày sau khi trồng (NSKT)): tưới 5 – 10 kg ure, bón thúc lần 2 (15 – 20 NSKT): tưới (10 – 15) kg NPK + 5 kg ure, bón thúc lần 3 (30 NSKT): toàn bộ phân hữu cơ vi sinh ( Komix, Humix) + (10 – 15)kg NPK + 5kg ure, bón thúc lần 4 (40 NSKT): 10 – 15kg NPK + 5kg Kali. Đối với hành giống thì bón lót 100 kg phân tôm (phân hữu cơ vi sinh); bón thúc lần 1 (7 – 10 NSKT): 5 – 10 kg ure + 5 kg NPK, bón thúc lần 2 (15 – 20 NSKT): 5kg NPK nếu cây phát triển kém thì bổ sung 5 kg ure.

Công thức bón phân này có thể thay đổi theo đất đai, thời tiết và màu xanh của hành. Nếu hành xau nên tưới thêm SA hoặc DAP để lá, rể củ phát triển không nên tưới ure lá sẽ vươn dài (hành bò) tạo củ khó. Chăm sóc trong 10 ngày đầu tưới 1 – 2 lần /ngày, 11 ngày trở đi 2 ngày/lần, lượng nước tưới thay đổi từ 100 – 150 đôi nước/1.000 m2/lần tưới (400 – 600 lít /lần) và ngưng tưới hẳn 1 tuần trước khi thu hoạch. Lượng nước tưới phải tăng đều ổn định, nếu tưới nước bất thường củ sẽ bị xé. Nhổ cỏ hai lần ở giai đọan 35 ngày đầu, tránh nhổ trễ hành sẽ bị động rễ, củ. Phun thuốc ngừa định kỳ nhất là khi thời tiết xấu.

Trong lúc trồng hành tím thường xuất hiện những sâu bệnh chủ yếu như: sâu ăn tạp, sâu xanh da láng, ruồi hành (dòi đục thân hành), tuyến trùng rể… cách trị: Phun một trong các loại thuốc: Match, Ataron, Peran, Polytrin, Regent, Sincocin,…Riêng sâu xanh da láng phải phu thuốc hóa học luân phiên với thuốc vi sinh, để phòng trị đạt hiệu quả nên ngắt ổ trứng và phun thuốc trừ trứng ngay trong giai đoạn mới phát hiện trứng ổ lứa đầu tiên có thể sử dụng Polytrin, Lannate, sau đó nếu phát hiện sâu vẫn còn xuất hiện phun luân phiên thuốc Prodigy, Match, Crymax, Delfin, Ammate,…Bệnh thối củ, đốm lá( đém cổ lá), thán thư, đốm vòng hiện tượng giương cổ bò…để phòng trị các loại bệnh nên cần điều chỉnh lượng phân, không nên bón thừa phân đạm, lượng nước và phun định kỳ thuốc gốc đồng (7-10 ngày/lần) Cocman, Coc 85, Kasuran, Kasumil, Cupry micin hoặc Benomyl, Score, Bavistin…

Giai đoạn 55 – 60 ngày, củ chuyển sang màu đỏ, lá đã ngã 80% thì bắt đầu nhổ, thường thì phơi nắng 2 – 3 ngày cho lá mềm lại để dễ vận chuyển xa. Chỉ nên thu hoạch hành vào những ngày khô ráo. Nhổ củ giũ sạch đất cho vào giỏ và chuyển về nơi bảo quản, tránh gây xây xát hoặc làm dập vỏ ngoài sẽ ảnh hưởng đến giai đoạn tồn trữ. Đối với hành sản xuất vụ tháng 2 – 3 dương lịch, để giữ làm giống thì thu hoạch 40 – 45 ngày sau khi trồng ( củ đã già ngừng tăng trưởng để lâu dễ hư củ) bảo quản: phơi nắng 10 – 15 ngày, rơm thật khô, phải sạch sâu bệnh, chất đống cao 1 – 5m, cứ một lớp hành phủ một lớp rơm, vị trí rơm giữa trời, thoáng hoặc treo nguyên chùm hành ở nơi thoáng gió, tồn trữ thuốc hóa học bằng cách ướp hỗn hợp 40 kg bột Tale + Sevin + Rovral/1 tấn củ hành.

III. Phòng trừ sâu bệnh trên cây hành vụ đông

Huyện Kinh Môn với diện tích cây trồng vụ đông năm nay 3.500 ha, thì cây hành chiếm diện tích khoảng 2.300 ha, là một trong những huyện có diện tích trồng hành lớn nhất tỉnh Hải Dương với nhiều xã trồng hành nổi tiếng như Hiệp Hoà, Phúc Thành, Đăng Long, Thanh Long, An Phụ, Lệ Ninh, Bạch Đằng, Thái Sơn…

Giống hành trồng phổ biến ở Kinh Môn là giống hành ta gốc Kinh Môn (khoảng 80% diện tích), năng suất hành thu được hàng năm đạt từ 5 – 6 tạ/sào Bắc bộ, tuy chưa cao so với tiềm năng song với lợi nhuận thu được bình quân 1 hành bằng 3- 5 lần/lúa, bà con nông dân cũng phấn khởi đặt nhiều hy vọng vào cây hành vụ đông.

Điều bà con cần quan tâm ở đây là năng suất hành còn thấp và chưa ổn định trong đó nổi lên 2 vấn đề lớn cần phải giải quyết đó là sâu bệnh hại và vấn đề bảo quản giống hành sau thu hoạch. Năng suất, phẩm chất củ hành còn thấp do những nguyên nhân chủ yếu sau:

- Giá giống cao (bình quân trên 30.000 đồng/kg) do khâu bảo quản giống khó khăn, thời gian bảo quản dài (từ 7-8 tháng), vì vậy lượng củ giống hao hụt rất lớn, có nơi mất 70-80%. Mặt khác củ giống hành thường bị nhiều loại sâu bệnh phá hại, việc chọn lọc và xử lý giống trước khi trồng chưa đảm bảo.

- Nhiều vùng trong huyện trồng hành độc canh, liên tiếp nhiều vụ không luân canh nên nguồn sâu bệnh tích luỹ nhiều trong đất, dễ có nguy cơ hình thành dịch khi có điều kiện thuận lợi.

- Khâu làm đất chưa kỹ, nhiều nơi không kịp phơi ải, dẫn đến nguồn sâu bệnh và cỏ dại còn tồn tại nhiều trong đất, đặc biệt trên những ruộng hành không chú ý vệ sinh đồng ruộng ngay sau khi thu hoạch.

- Do bón phân NPK không cân đối (nhiều nơi bón quá nhiều phân lân), thiếu phân hữu cơ, nhất là thiếu nhiều khoáng chất vi lượng cần thiết.

- Một vấn đề nữa cần lưu ý sau khi trồng hành, bà con nông dân thường che phủ củ hành bằng rơm rạ, trên rơm rạ ẩm ướt hoặc chưa hoai mục có vô số hạch nấm và sợi nấm của nhiều loài nấm có nguồn gốc trong đất như nấm thối gốc mốc trắng, nấm thối gốc lở cổ rễ… dễ dàng lây nhiễm sang phá hại cây hành.

*Đối với cây hành đang sinh trưởng vụ đông, thường bị phá hại bởi các loại sâu, bệnh chủ yếu sau:

+ Về sâu hại phổ biến là sâu xanh da láng, sâu xám, dòi đục lá, bọ trĩ, nhện trắng.

+ Về bệnh hại chủ yếu là bệnh đốm khô lá hành, bệnh thán thư, bệnh sương mai, bệnh thối ướt vi khuẩn, bệnh mốc xám và mốc đen do nấm…

*Ở giai đoạn sau thu hoạch trong thời gian bảo quản hành: Sâu bệnh chủ yếu là sâu đục củ hành, bệnh thán thư, bệnh mốc đen, bệnh thối ướt vi khuẩn… Để phòng trừ sâu bệnh hại cây hành cần chú ý phòng trừ kịp thời, triệt để theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây, trên nguyên tắc 4 đúng và phương châm quản lý dịch hại tổng hợp từ trước khi trồng đến thời kỳ bảo quản. Sau đây là một số biện pháp cụ thể góp ý để người trồng hành tìm hiểu ứng dụng:

+ Chọn củ hành giống chắc, đáy tròn, màu tím đậm, không mọc rễ non, không bị sâu bệnh hại hoặc giập nát để trồng. Nên xử lý củ giống bằng dung dịch thuốc Nativo 750 WG nồng độ 1% (3gr/3lít nước) + thuốc trừ vi khuẩn Kasumin 2L (1%) phun ướt đều cho 15 kg hành giống trước khi trồng.

+ Hoặc xử lý củ giống bằng cách ngâm vào dung dịch Rovral 50 WP 2% + Kasumin 2 L (1%) trong thời gian 5 – 10 phút.

+ Xử lý cây con sau khi trồng để phòng trừ sâu bệnh hại: Pha 1 gói Nativo 750 WG (3g) + 1 gói Confidor 700 WG (1g) + Kasumin 2L (1%) cho 1 bình 12 lít phun 1,5 bình cho 1 sào Bắc bộ (360 m2).

+ Nên luân canh cây hành với lúa nước hoặc cây trồng khác họ.

+ Ngoài việc làm đất kỹ, phơi ải, lên luống cao thoát nước tốt, cần chú ý bón lót bằng phân chuồng hoai mục (5-7 tạ/sào Bắc bộ), bón lót thêm vôi bột.

+ Về phân hoá học cần chú ý bón cân đối N-P-K, có thể bổ sung khoáng chất tinh khiết cho cây hành bằng cách phun trên lá thuốc Bayfolan 11-8-6 của công ty Bayer sau khi trồng 2 tuần với liều lượng 25ml /8lít nước hoặc 50 ml/16 lít nước để cân bằng dinh dưỡng, bổ sung vi lượng và tăng sức đề kháng cho cây hành.

+ Để hạn chế cỏ dại có thể rải hoặc phun thuốc Raft 800 WG với liều lượng 130g/ha có tác dụng diệt nhiều loại cỏ dại, tiết kiệm chi phí và làm tơi xốp đất.

+ Để phòng trừ sâu xanh da láng, ruồi đục lá có thể dùng luân phiên một số loại thuốc sau: Regent 800 WG (32 g/ha), Buldock 025 EC (0,75 lít/ha) hoặc Decis Repel 2,5 EC (0,5 lít/ha).

- Phòng trừ bọ trĩ, nhện trắng dùng Confidor 100 SL (0,5 lít/ha) hoặc Confidor 700 WG (0,04 kg/ha), Admire 200 OTEQ (0,2 lít/ha).

- Về bệnh hại: Để phòng trừ các bệnh đốm khô lá hành, bệnh mốc xám, thán thư có thể dùng Nativo 750 WG (0,12 kg/ha), Antracol 70 WP (2 kg/ha) hoặc Rovral 50 WP khi bệnh mới xuất hiện trên lá.

- Đối với bệnh sương mai: Dùng Aliette (1,5 kg/ha), hoặc Melody Duo 66,75 WP (1,5 kg/ha).

- Phải đảm bảo thời gian cách ly trước thu hoạch 7 ngày – 14 ngày.

* Thu hoạch hành nên chọn ngày nắng ráo, khi để giống cần loại bỏ những củ bị sâu bệnh, giập nát, sây sát và không cắt lá khi hành chưa khô. Để bảo quản hành sau khi thu hoạch cần chú ý phơi khô cả mặt trên và mặt dưới của bó hành. Trong quá trình bảo quản củ hành cần chú ý đảm bảo khô ráo, thông thoáng vì nhiệt độ cao và ẩm ướt là yếu tố cơ bản dẫn đến củ hành giống bị hao hụt và sâu bệnh phá hại nhiều.

Mộc Hoa Lê (sưu tầm)

Nguồn chonongnghiep.com

Giá Vàng 9999
ĐVT: tr.đ/lượng
Loại Mua vào Bán ra
Ngoại tệ